Đại cương về Corona Virus

Virus Corona là nhóm các virus thuộc phân họ Coronavirinae trong họ Coronaviridae, của Bộ Nidovirales. Coronavirus là virus có hệ gen ARN dương sợi đơn kèm nucleocapsid đối xứng xoắn ốc. Bộ gen của Coronavirus lớn khoảng từ 26 – 32 kilo base.

Dưới kính hiển vi điện tử hình ảnh của chúng có một vành tạo bởi các protein bề mặt giống như vương miện, bởi vậy chúng có tên gọi Coronavirus. Coronavirus có thể gây bệnh ở người và nhiều loài động vật. Ở người Coronavirus thường gây ra các triệu chứng cảm cúm thông thường, ngoại trừ chủng SARS-CoV (từ Trung Quốc năm 2003), MERS-CoV ( từ trung Đông năm 2012). Cuối năm 2019, một chủng mới Coronavirus gây viêm đường hô hấp cấp (2019-nCoV) xuất hiện từ Vũ Hán, Trung Quốc. Virus này bám dính, xâm nhập gây viêm niêm mạc đường hô hấp và gây ra viêm phổi nhiều mức độ khác nhau với nguy cơ nặng và gây tử vong. Ngày 31/01/2020 Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố dịch bệnh COVID-19 xảy ra tại Trung Quốc và các quốc gia khác là tình trạng y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế.

  • 1. Lịch sử Virus Corona
  • 2. Cấu trúc Virus Corona 
  • 3. Cơ chế nhân lên trong vật chủ của Virus Corona 
  • 4. Hệ sinh thái virus Corona
  • 5. Các bệnh lý ở người do Virus Corona gây ra
  • 6.  Chẩn đoán, điều trị, dự phòng nhiễm Virus Corona

– Virus corona được phát hiện vào những năm 1960: virus gây viêm phế quản truyền nhiễm ở gà và 2 loại virus từ khoang mũi của bệnh nhân bị cảm lạnh thông thường được đặt tên là coronavirus 229E và coronavirus OC43.

– Các thành viên khác của họ virus này đã được xác định, hầu hết trong số này có mặt trong các dịch bệnh nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng bao gồm:

+ Năm 2003: SARS- CoV

+ Năm 2004: HCoV NL63

+ Năm 2005 :  HKU1

+ Năm 2012:  MERS-CoV

+ Năm 2019: 2019-nCoV

– Ngày 31 tháng 12 năm 2019, một chủng virus Corona mới được ký hiệu là 2019-nCoV được báo cáo tại thành phố Vũ Hán của Trung Quốc. Chủng 2019-nCoV đã gây ra một vụ dịch nghiêm trọng tại Vũ Hán. SARS-CoV-2 bị nghi ngờ là có nguồn gốc từ các động vật hoang dã như rắn và dơi, được lây lan do việc buôn bán tại chợ hải sản Hoa Nam (Vũ Hán).

– Chủng  2019-nCoV  tại Vũ Hán được xác định là một chủng mới của dạng β CoV từ nhóm 2B với độ tương tự di truyền ~ 80% so với SARS-CoV. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đặt  tên gọi chính thức của bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) là COVID-19. Tên gọi mới này gọi tắt của coronavirus diseases 2019, theo các từ khóa corona, virus, disease (dịch bệnh) và 2019 (năm virus xuất hiện).

Ủy ban quốc tế về phân loại virus (ICTV) cũng quyết định đặt tên chính thức cho chủng virus Corona mới (2019-nCoV ) này là SARS-CoV-2 vào ngày 11 tháng 02 năm 2020.

– Đến thời điểm hiện tại, dịch bệnh COVID-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Theo Bộ Y tế và WHO tính đến ngày 04/03/2020, trên toàn thế giới có 95.413 người nhiễm SARS-CoV-2; trong đó 3.285 người tử vong; 53.257 người đã điều trị khỏi và xuất viện. Trong khi Trung Quốc ghi nhận các ca mắc Covid-19 giảm dần so với những ngày trước đó thì các ổ dịch bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc lại có chiều hướng lan rộng ra hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới. Các vùng dịch từ châu Á đã lan sang châu Âu và tiếp tục tới Trung Đông (đặc biệt ở các quốc gia: Hàn Quốc – 5.766 ca nhiễm, Italy- 3.089 ca nhiễm, Iran- 2.922 ca nhiễm, …. nguồn: https://corona.kompa.ai).

– Tên “Coronavirus” có nguồn gốc từ tiếng Latin. Corona có nghĩa là vương miện hoặc hào quang. Hình ảnh xuất hiện đặc trưng của virion dưới kính hiển vi điện tử với một rìa lớn, tạo thành một hình ảnh như vương miện hoàng gia hoặc vành nhật hoa. Hình thái học này được tạo ra bởi các peplomers tăng đột biến của virus, là các protein cư trú trên bề mặt của virus và xác định ái tính với vật chủ.

– Coronavirus có hình cầu với đường kính khoảng 125nm. Đặc điểm nổi bật nhất của coronavirus các protein bề mặt lồi ra thành các gai. Bên trong vỏ của virion là nucleocapsid sợi đơn dương đối xứng xoắn ốc.

– Các hạt Coronavirus chứa 4 protein cấu trúc chính, bao gồm: protein spike (S), màng (M), vỏ (E) và nucleocapsid (N). Cả 4 protein cấu trúc đều được mã hóa trong đầu 3 ′ của bộ gen virus.

+  Protein S: có trọng lượng khoảng 150 kDa, đa số gồm hai tiểu phần S1 hình cầu ở đầu và S2 là phần cuống, tạo nên cấu trúc gai đặc biệt trên bề mặt của virus và có vai trò trung gian gắn vào thụ thể chủ của tế bào vật chủ.

+  Protein M: là protein cấu trúc chính của màng virus khiến virion có hình cầu.

+ Protein E: có trọng lượng khoảng 8 -12 kDa, nằm trên vỏ virus và có vai trò chính trong việc lắp ráp và giải phóng virus.

+ Protein N: tồn tại trong nucleocapsid và có vai trò liên kết bộ gen virut thành cấu trúc kiểu chuỗi hạt để đóng gói bộ gen thành các hạt virus.

– Ngoài 4 protein chính trên, còn có protein phi cấu trúc hemagglutinin-esterase (HE), có vai trò tăng cường sự xâm nhập của virus qua trung gian protein S và giúp virus xâm nhập vào tế bào niêm mạc. Các protein phi cấu trúc khác có vai trò trong đảm bảo các hoạt động của virus.

3.1. Xâm nhập vào tế bào vật chủ:

– Khi xâm nhập vào vật chủ, protein S gắn vào thụ thể của nó trên bề mặt màng tế bào niêm mạc đường hô hấp của vật chủ.

– Đa số các coronavirus sử dụng peptidase làm thụ thể tế bào của chúng: SARS-CoV và HCoV-NL63 sử dụng men chuyển angiotensin 2 (ACE2) làm thụ thể,  MERS-CoV dùng peptidase 4 (DPP4) để làm thụ thể xâm nhập vào tế bào người.

– Sự thay đổi di truyền của virus làm thay đổi khả năng gắn kết thụ cảm thể và thay đổi vật chủ của chúng.

3.2. Dịch mã và sao chép:

– Bước tiếp theo sau khi xâm nhập tế bào vật chủ là dịch mã gen sao chép từ RNA gen của virion.

– Đầu tiên chúng tổng hợp ra sợi ARN thông tin để tổng hợp ra các protein cấu trúc và phi cấu trúc để đảm bảo các hoạt động tiếp của virus.

– Tiếp đó chúng tạo ra một sợi ARN âm đóng vai trò khuôn mẫu để tổng hợp tiếp  sợi ARN dương con.

3.3. Quá trình lắp ráp:

– Sau quá trình sao chép và tổng hợp RNA thế hệ con, các protein cấu trúc virut S, E và M được chuyển vào lưới nội bào (ER) và di chuyển vào khoang trung gian reticulum-Golgi (ERGIC).

– Tại lưới nội bào: bộ gen của virut được bao bọc bởi protein N thành các Nucleocapsid. Protein M phối hợp với protein E tích hợp vào màng của ERGIC thành lớp vỏ virus gắn bọc lấy Nucleocapsid tạo ra các hạt giống virus (VLP). Sau đó protein S gắn vào lớp màng của VLP thành các hạt virion trưởng thành.

3.4. Quá trình giải phóng virus:
– Sau khi lắp ráp, virion được vận chuyển đến bề mặt tế bào trong các túi và được giải phóng bởi exocytosis.

-Trong một số trường hợp protein S không được gắn vào màng virion đưa đến bề mặt tế bào nên không trình diện kháng nguyên để tạo miễn dịch. Điều này dẫn đến sự hình thành của các tế bào đa nhân khổng lồ, cho phép virus lây lan và tồn tại trong cơ thể bị nhiễm bệnh mà không bị hệ miễn dịch phát hiện hoặc bị vô hiệu hóa bởi các kháng thể đặc hiệu.

4.1. Phân loại virus Corona:

– Virus Corona được phân loại thành 3 nhóm:

+ Nhóm I: bao gồm các mầm bệnh động vật;

+ Nhóm II: bao gồm các virus gây bệnh ở súc vật nuôi và các coronavirus ở người liên quan đến hô hấp;

+ Nhóm III: bao gồm các coronavirus gia cầm.

– Trong một phân loại khác, có 4 nhóm α, β, δ và γ.

+ Nhóm α: chủ yếu ở dơi, và các virus PEDV; TGEV gây tiêu chảy ở lợn, FIPV gây viêm phúc mạc ở mèo và các chủng HCoV-229E và HCoV-LN63 gây cảm lạnh ở người.

+ Nhóm β: có các virus gây bệnh ở dơi, viêm gan ở chuột, các virus SARS được cho là từ dơi và MERS-CoVđược cho là từ dơi và lạc đà truyền sang người; các virus HCoV043 và HCoV-HKU1 gây cảm lạnh ở người cũng thuộc nhóm này.

+ Nhóm δ có virus gây bệnh tăng Plasmocyte đuôi gai.

+ Nhóm γ: có các virus gây bệnh ở bò, chuột, gà và một số gia súc khác.

–  Ngoài các coronavirus phổ biến trên, người ta cũng phát hiện các chủng coronavirus mới như SW ở cá voi hay các Mesoniviridae là những phân nhánh của Nidovirales lưu hành ở các côn trùng.

– Mô hình của 2 virus SARS và MERS-CoV cho thấy: Coronavirus lưu hành ổn định trong quần thể các vật chủ tự nhiên. Nhưng khi chúng biến đổi và lây lan sang vật chủ mới, chúng sẽ lây lan theo cấp số nhân. Các Coronavirus lưu hành ở người gây khoảng 20% số ca nhiễm trùng hô hấp hàng năm. Khác biệt so với các Rhinovirus thường gây cảm lạnh về mùa thu và mùa xuân, hầu hết các trường hợp bệnh Coronavirus xảy ra vào mùa đông, chỉ một số ít vào mùa xuân và mùa thu, và hầu như không có có trường hợp bệnh xảy ra vào mùa hè. Điều này gợi ý mối tương quan giữa thay đổi thời tiết và sự lây truyền của Coronavirus

4.2.Virus Corona ở người:

Có bảy chủng coronavirus trên người đã được biết tới, bao gồm:

– Coronavirus 229E ở người (HCoV-229E)

– Coronavirus OC43 (HCoV-OC43)

– SARS-CoV

– Coronavirus ở người NL63 (HCoV-NL63, coronavirus New Haven)

– Coronavirus ở người HKU1

– MERS-CoV (Hội chứng hô hấp Trung Đông do coronavirus), trước đây gọi là coronavirus mới 2012 và HCoV-EMC .

– SARS-CoV-2 còn được gọi không chính thức là 2019-nCoV.

4.3.Virus Corona ở động vật:

– Virus Corona đã được công nhận là nguyên nhân gây bệnh lý trong thú y từ đầu những năm 1970.

– Ở gia cầm, Virus Corona gây bệnh tại đường hô hấp, các động vật khác virus Corona gây bệnh chủ yếu tại đường ruột.

5.1.Bệnh cảm lạnh:

– Có 4 chủng Coronavirus lưu hành ở người gây bệnh cảm lạnh, bao gồm:

+ Nhóm  α-coronaviruses :  HCoV-229E và HCoV-NL63

+ Nhóm β-coronaviruses:  HCoV-OC43 và HCoV-HKU1

– Những virus này gây ra khoảng 20% số ca nhiễm trùng đường hô hấp hàng năm.

– Sau khi xâm nhập đường hô hấp qua mũi và ủ bệnh khoảng 3 ngày, bệnh nhân thường có các triệu chứng cảm lạnh như nghẹt mũi, hắt hơi, sổ mũi và đôi khi ho và phát tán virus ra môi trường  từ dịch tiết đường hô hấp. Bệnh sẽ tự hết sau vài ngày. Tuy nhiên ở nhóm bệnh nhân là ở trẻ sơ sinh, người già và  những người mắc bệnh tiềm ẩn, có thể có biểu hiện nặng hơn như viêm đường hô hấp dưới hoặc bội nhiễm vi khuẩn.

5.2. Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS):
– Do SARS-CoV thuộc nhóm 2b β-coronavirus gây ra vụ dịch  vào năm 2002-2003:  làm nhiễm khoảng 8098 bệnh nhân với 774 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong là 9%) và gây thiệt hại 59 tỷ USD. Tỷ lệ tử vong lên tới 50% ở những người trên 60 tuổi. Nghi vấn ban đầu chúng xuất phát từ cầy hương. Tuy nhiên, hiện nay người ta chấp nhận rằng SARS-CoV có nguồn gốc từ loài dơi vì một số lượng lớn dơi móng ngựa Trung Quốc có bằng chứng huyết thanh cho nhiễm trùng CoV từ trước.

– Việc lây truyền SARS-CoV chủ yếu trong các thành viên của gia đình hoặc cơ sở y tế. Các trường hợp lây lan qua tiếp xúc thông thường ngoài xã hội hoặc qua sử dụng chung dịch vụ công cộng như phương tiện giao thông, khách sạn, nhà hàng hầu như ít xảy ra.
– SARS-CoV chủ yếu lây nhiễm các tế bào biểu mô trong phổi. Virus có khả năng xâm nhập vào các đại thực bào và tế bào đuôi gai nhưng chỉ dẫn đến nhiễm trùng tự giới hạn. Nhưng người ta cho rằng quá trình này giải phóng nhiều cytokine và chemokine có thể gây các tổn thương phổi. Các mô hình động vật gặm nhấm bị nhiễm các chủng SARS-CoV cũng có các đặc điểm lâm sàng tương tự như bệnh ở người đi kèm sự tăng các cytokine tiền viêm và giảm phản ứng tế bào T.

5.3. Hội chứng hô hấp Trung Đông (viêm phổi và suy thận):
– Do MERS-CoV gây ra, phát hiện vào năm  năm 2012 .

– Tính đến ngày 27 tháng 8 năm 2014, đã có tổng cộng 855 trường hợp mắc MERS-CoV, với 333 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử vong khoảng 40% ).

– MERS-CoV là một nhóm 2c β-coronavirus có liên quan đến hai loại coronavirus ở dơi đã được xác định trước đó là HKU4 và HKU5. Tuy nhiên con người hiếm khi tiếp xúc với dơi và lạc đà là vật chủ trung gian. Các nghiên cứu huyết thanh học đã xác định được kháng thể MERS-CoV trên lạc đà ở Trung Đông, và các dòng tế bào của lạc đà cho phép sao chép MERS-CoV. Các nghiên cứu gần đây xác định MERS-CoV gần như giống hệt nhau ở cả lạc đà và người bị nhiễm ở Arabi Saudi.

5.4. Viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona 2019 (COVID-19):
– Ngày 31/12/2019 tại Vũ Hán (Hồ Bắc, Trung Quốc) xuất hiện vụ dịch viêm phổi Vũ Hán từ ổ khởi phát ở chợ hải sản Huanan.

– Bệnh do chủng mới của vi rút Corona 2019 (2019- nCoV – đã được đặt tên là SARS-CoV-2)  gây ra.

– Thời gian ủ bệnh từ 7-14 ngày, chủ yếu gây tình trạng viêm niêm mạc đường hô hâp và viêm phổi ở các mức độ khác nhau.

– Người lớn tuổi, người có bệnh đồng mắc (đái tháo đường, tăng hyết áp, bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính,  suy giảm miễn dịch,…) có nguy cơ cao rất dễ tiến triển nhanh trong vòng 48 giờ thành viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp tiển triển (ARDS) và tử vong. Đến nay những hiểu biết chuyên sâu về SARS-CoV-2 vẫn đang được tích cực nghiên cứu; dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp và lan rộng ra hơn 70 quốc gia trên thế giới với tỷ lệ tử vong ước tính khoảng 3,4%. Dịch COVID-19 đang là vấn đề quốc tế được quan tâm và cập nhật từng giờ.

6.1. Chẩn đoán:
– Trong hầu hết các trường hợp cảm lạnh thông thường do coronavirus, bệnh sẽ tự khỏi nên chẩn đoán virus là không cần thiết.

– Chẩn đoán virus được thực hiện  trong các nghiên cứu dịch tễ học và thú y khi cần thiết.

– Chẩn đoán xác định nhiễm virus có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng chống, kiểm soát lây nhiễm khi có dịch do Virus corona nghiêm trọng như MERS-CoV, SARS và SARS-CoV-2.

– PCR phiên mã ngược (RT-PCR) được sử dụng để phát hiện virus trong các mẫu bệnh phẩm. Trong kỹ thuật RT-PCR để chẩn đoán Coronavirus, các vùng khuếch đại trong chuỗi mã hóa RNA polymerase phụ thuộc RNA của virus và vùng gen mã hóa protein N đang được sử dụng để chẩn đoán Coronavirus.

– Các xét nghiệm huyết thanh học sẽ giúp chẩn đoán hồi cứu phục vụ các nghiên cứu dịch tễ học..

6.2. Điều trị:
– Cho đến nay, không có phương pháp điều trị kháng vi-rút nào đặc hiệu nào với Coronavirus ở người, vì vậy các phương pháp điều trị chỉ mang tính hỗ trợ.

– Các biện pháp hỗ trợ bao gồm: điều trị triệu chứng (hạ sốt, giảm ho, cân bằng nước, điện giải, đảm bảo dinh dưỡng, nâng cao thể trạng…), hỗ trợ hô hấp như thở oxy, thở máy, ECMO… giúp giữ người bệnh sống sót cho đến khi bệnh tự hồi phục.

– Corticoid không nên sử dụng ở tất cả người bệnh do chưa có báo cáo về lợi ích của corticoid và corticoid làm giảm thải trừ virus ra khỏi cơ thể.

– Nghiên cứu invitro cho thấy interferon (IFN) có hiệu quả một phần chống lại Coronavirus. IFN kết hợp với ribavirin có thể có hoạt tính chống Coronavirus cao hơn IFN đơn thuần. Tuy nhiên, hiệu quả trên lâm sàng còn chưa được khẳng định.

– Huyết thanh có kháng thể trung hòa SARS-CoV đã được sản xuất và có thể sử dụng hữu ích nhất để bảo vệ nhân viên y tế.

– Các mô hình cytokine ở bệnh nhân bị bệnh coronavirus nặng và biện pháp lọc, hấp phụ cytokine để điều trị bệnh nhân cũng đang được nghiên cứu.

– Cá thể hóa các biện pháp điều trị cho từng trường hợp, đặc biệt là các ca bệnh nặng, nguy kịch.

6.3. Dự phòng:

– Kiểm soát lây nhiễm là phần quan trọng và không thể thiếu trong quản lý người bệnh nhiễm coronavirus, cần tiến hành sớm ngay tại thời điểm bệnh nhân nghi ngờ nhiễm.
– Dự phòng lây truyền coronavirus bằng các biện pháp dự phòng chuẩn như dùng khẩu trang khi tiếp xúc gần, rửa tay, giám sát các đôi tượng trở về từ vùng dịch tễ và cách ly bệnh nhân. Các biện pháp dự phòng chuẩn phải luôn được áp dụng thường xuyên.

– Các vắc-xin phòng coronavirus chỉ mới phát triển được trong thú y với những bệnh như IBV, TGEV, PEDV và Canine CoV và cũng chưa thực sự hiệu quả.

– Vắc-xin kết hợp giữa virus dại hoặc camelpox và MERS-CoV đang được phát triển để tiêm chủng cho lạc đà nhằm hạn chế nguy cơ dịch bệnh MERS ở Trung Đông.

– Các vắc xin phòng bệnh do SARS-CoV, MERS-CoV, SARS-CoV-2 ở người đang được nghiên cứu, phát triển.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. De Groot RJ, Baker SC, Baric R, Enjuanes L, Gorbalenya AE, Holmes KV, Perlman S, Poon L, Rottier PJ, Talbot PJ, Woo PC, Ziebuhr J (2011). “Family Coronaviridae”. Trong AMQ King, E Lefkowitz, MJ Adams và đồng nghiệp. Ninth Report of the International Committee on Taxonomy of Viruses. Elsevier, Oxford. tr. 806–828. ISBN978-0-12-384684-6.
  2. ^ Laboratory testing of human suspected cases of novel coronavirus (nCoV) infection. Interim guidance, 10 January 2020
  3. ^  Novel Coronavirus 2019 (nCoV-2019), Wuhan, China
  4. ^“Pneumonia of unknown cause – China”. World Health Organization. 5 tháng 1 năm 2020.
  5. ^https://www.cdc.gov/coronavirus/2019 -ncov/index.html?CDC_AA_refVal=https%3A%2F%2Fwww.cdc.gov%2Fcoronavirus%2Fnovel-coronavirus-2019.html
  6. “WHO Statement Regarding Cluster of Pneumonia Cases in Wuhan, China”
  7. https://vi.wikipedia.org/wiki/Coronavirus#cite_ref-WHO9Jan2020_28-0
  8. http://benhnhietdoi.vn/

Bs Trịnh Thị Phương Nhung

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *